THIÊN THƯỢNG - THIÊN HẠ

BÁC ÁI - CÔNG BÌNH

(Dieu et Humanité- Amour et Justice)


NAM MÔ

Nhứt nguyện: ĐẠI ĐẠO HOẰNG KHAI

Nhì nguyện: PHỔ ĐỘ CHÚNG SANH

Tam nguyện: XÁ TỘI ĐỆ TỬ

Tứ nguyện: THIÊN HẠ THÁI BÌNH

Ngũ nguyện: THÁNH THẤT AN NINH

Posted on: 12/14/2014 8:40:02 PM

 

KHAI ĐẠO VỚI CHÍNH QUYỀN PHÁP

TỜ KHAI ĐẠO

(Trích Cao Đài Tự Điển - Đức Nguyên)

*   *   *

* Khai: Mở ra, mở đầu, mở mang, bắt đầu.

*Đạo: tôn giáo.

Khai Đạo là mở ra một tôn giáo mới để cứu giúp nhơn sanh, tức là mở ra một con đường tu hướng dẫn nhơn sanh tu hành, đạt được sự an vui, hết phiền não và linh hồn sẽ được giải thoát khỏi luân hồi, lên sống an lạc nơi cõi TLHS.

Năm Bính Dần (1926), Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế dùng cơ bút mở ra tại miền Nam Việt Nam một nền tôn giáo mới gọi là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, hay Đạo Cao Đài, để cứu vớt nhơn sanh trong thời Hạ Nguơn mạt kiếp, trước khi có cuộc Tận Thế và Hội Long Hoa.

Tờ Khai Đạo (Đạo Cao Đài) là một bản văn gởi cho nhà cầm quyền Pháp đương thời là Thống Đốc Nam Kỳ Le Fol để thông báo chánh thức với nhà cầm quyền Pháp biết là một số người có tên trong văn bản, đứng ra thành lập một nền Tân Tôn giáo gọi là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, nói tắt là Đạo Cao Đài, và bắt đầu hoạt động tại miền Nam Việt Nam.

Tờ Khai Đạo nầy không phải là Đơn Xin Khai Đạo, mà là một bản Tuyên Ngôn chánh thức mở Đạo, chiếu theo luật lệ nước Pháp áp dụng cho NamKỳ, thuộc địa của Pháp, dân chúng được hưởng quyền tự do tín ngưỡng, sùng bái cúng kiếng Trời Phật, miễn là không làm rối loạn trật tự và an ninh trong xứ.

Những người đứng tên trong Tờ Khai Đạo cử Ngài Lê Văn Trung, cựu Thượng Nghị Viện Đông Dương, đích thân cầm Tờ Khai Đạo đem lên giao tận tay Thống Đốc Nam Kỳ Le Fol, được ông Le Fol tiếp nhận vui vẻ.

Tờ Khai Đạo không phải là Đơn Xin, nên không có sự chờ đợi nhà cầm quyền Pháp chấp thuận cho phép. Do đó, sau khi gởi Tờ Khai Đạo lên Thống Đốc Le Fol rồi, những vị đứng tên Khai Đạo lo gấp rút truyền Đạo, thâu nhận tín đồ, xúc tiến xây dựng cơ sở, chuẩn bị tổ chức Đại Lễ Khai Đạo ra mắt quốc dân và quốc tế.

Về việc lập Tờ Khai Đạo, diễn tiến thứ tự như sau:

- Đàn cơ ngày 16-8-Bính Dần (dl 22-9-1926), Đức Chí Tôn dạy: "Các con xin chánh phủ Lang Sa đặng khai Đạo thì cực chẳng đã Thầy ép lòng mà chịu vậy cho tùng nơi Thiên cơ. Thầy rất đau lòng mà chịu vậy, chớ biết sao!"

Đức Chí Tôn dạy hai Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt: "Trung, Lịch, hai con phải hội chư Thánh mà xin khai Đạo. Phải làm đơn mà dâng cho Thầy xem xét sửa trước nghe!" (TNHT, Bài 36, ngày 16-8-Bính Dần).

- Đúng một tuần lễ sau, ngày 23-8-Bính Dần (dl 29-9-1926), các môn đệ gồm cả thảy 247 tín đồ nam nữ họp đại hội tại nhà Ông Nguyễn Văn Tường, Thông Ngôn Sở Tuần Cảnh Sài Gòn, ở đường Galliéni (nay là đường Trần Hưng Đạo, Quận I Sài Gòn) trong một đêm mưa to gió lớn, nước ngập hết các đường sá, xe hơi không chạy được, nhờ vậy nên buổi đại hội không bị mật thám Pháp ngăn trở. Tất cả môn đệ đều đồng ý ký tên vào Tờ Khai Đạo do Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt dự thảo bằng tiếng Pháp.

- Sau đó, quí Ngài lập đàn cơ tại nhà Ngài Cao Quỳnh Cư để dâng Tờ Khai Đạo lên cho Đức Chí Tôn duyệt xét.

Đức Chí Tôn giáng phê:

"Mấy con không nói một điều gì đến Thầy hết, nhưng thôi kệ, cứ gởi đi." "Thầy dặn con, Trung, nội thứ năm tuần tới, phải đến Le Fol mà khai cho kịp nghe!"

Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt tuân lịnh Đức Chí Tôn, chờ đến thứ năm tuần tới là ngày 7-10-1926 (âl 1-9-Bính Dần), Ngài đến dinh Thống Đốc Nam Kỳ nạp Tờ Khai Đạo cho Ông Le Fol và được Ông Le Fol tiếp nhận.

Bổn lưu của Tờ Khai Đạo ấy đã thất lạc từ lâu, nay được thấy trong Luận văn thi Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp của một sinh viên Pháp tên là Pierre Bernardini nhan đề: Le Caodaïsme au Cambodge, Université de Paris VII, 1974, page 282, 283, 284. 

TỜ KHAI ĐẠO

(Bản dịch Tiếng Pháp ra tiếng Việt)

TUYÊN NGÔN CHÁNH THỨC ĐƯỢC NHỮNG NGƯỜI SÁNG LẬP ĐẠO CAO ĐÀIGỞI TỚI ÔNG LE FOL, THỐNG ĐỐC NAM KỲ.

 

Sài Gòn, ngày 7 tháng 10 năm 1926.

Kính Ông Thống Đốc,

Những người ký tên dưới đây hân hạnh kính báo cho Ông biết những điều dưới đây:

Tại Đông Dương đã có ba nền tôn giáo (Phật giáo, Lão giáo, Khổng giáo). Tổ Tiên của chúng tôi tu hành theo ba giáo lý ấy và đã sống hạnh phúc nhờ nghiêm chỉnh tuân theo những lời giáo huấn tốt đẹp của các vị Tổ Sư Tam giáo truyền dạy.

Vào thời xưa, người ta sống không lo âu, đến nỗi người ta có thể ngủ không đóng cửa và cũng không thèm lượm của rơi ngoài đường. (Gia vô bế hộ, lộ bất thập di), ấy là câu ngạn ngữ ghi chép trong sử sách của chúng tôi.

Than ôi! Thời đại tốt đẹp đó không còn nữa vì những lý do sau đây:

1. Những người hành đạo của các tôn giáo ấy đã tìm cách phân chia, trong lúc đó, mục đích của tất cả tôn giáo đều giống nhau: Làm điều thiện, tránh điều ác, và thành kính thờ phượng Đấng Tạo Hóa.

2. Họ đã làm sai lạc hoàn toàn bản chất, ý nghĩa của các giáo lý thiêng liêng quí báu ấy.

3. Sự tranh đua về lợi danh, lòng tham vọng của con người, đều là những lý do chánh của sự bất đồng tư tưởng hiện nay. Những người VN ngày nay đã hoàn toàn từ bỏ những phong tục và truyền thống tốt đẹp của thời xưa.

Ngao ngán trước tình trạng các sự việc nêu trên, một nhóm người VN có nhiệt tâm với truyền thống và tôn giáo, đã nghiên cứu cải cách các tôn giáo nói trên, để nắn đúc thành một tôn giáo duy nhứt gọi là Đạo Cao Đài hay Đại Đạo.

Danh từ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có nghĩa là Đại Ân Xá Kỳ Ba, được Đấng Chí Linh ban cho và Ngài đã đến giúp đỡ những người ký tên dưới đây thành lập nền Tân Tôn giáo ấy.

Đấng Chí Linh đã đến dưới danh xưng Ngọc Hoàng Thượng Đế, gọi là Cao Đài hay Đấng Tối Cao, Thượng Đế Toàn Năng.

Qua trung gian của các đồng tử phò cơ, Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế truyền cho những người ký tên dưới đây những bài Thánh giáo có mục đích cô đọng và giảng dạy các giáo huấn tốt đẹp của ba nền tôn giáo xưa.

Tân Giáo lý sẽ dạy cho dân chúng:

1) Luân lý cao thượng của Đức Khổng Tử.

2) Đạo đức ghi trong Phật giáo và Lão giáo. Đạo đức ấy bao gồm làm điều thiện, tránh điều ác, yêu thương nhơn loại, thực hành sự hòa hợp, hoàn toàn tránh chia rẽ và chiến tranh.

Những người ký tên dưới đây hân hạnh trình bày với ông:

1) Vài đoạn trích lục của tập Thánh Ngôn của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, những lời nói được đánh giá là quí báu hơn hết tất cả những gì hiện có nơi cõi phàm trần.

2) Bản dịch vài đoạn trong quyển Kinh Cầu Nguyện mà Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế đã dạy chúng tôi.

Mục đích theo đuổi của những người ký tên dưới đây là đem dân chúng trở lại thời thái bình và hòa hợp của thời xưa. Như thế, con người sẽ hướng về một thời đại mới rất hạnh phúc, khó tả ra đặng.

Nhân danh đông đảo dân chúng VN mà họ đã hoàn toàn tán thành những điều nghiên cứu nầy, có danh sách đính kèm theo đây, những người ký tên dưới đây hân hạnh và kính cẩn bày tỏ với Ông là những người ấy sẽ đi phổ thông cho toàn thể nhơn loại Giáo lý thiêng liêng nầy.

Tin tưởng trước rằng, nền Tân Tôn giáo nầy sẽ đem lại cho tất cả chúng ta hoà bình và hòa hợp, những người ký tên dưới đây yêu cầu Ông tiếp nhận chánh thức Bản Tuyên Ngôn của họ.

Những người ký tên dưới đây xin Ông Thống Đốc vui lòng chấp nhận sự chắc chắn của những tình cảm tôn kính và chân thành của họ.

KÝ TÊN:

  1. Bà Lâm Ngọc Thanh, Nghiệp chủ ở Vũng Liêm.
  2. Ông Lê Văn Trung, Cựu Thượng NghịViện thọ Ngũ đẳng bửu tinh, Chợ Lớn.
  3. Lê Văn Lịch, thầy tu làng Long An, Chợ Lớn.
  4. Trần Đạo Quang, thầy tu làng Hạnh Thông Tây Gia Định.
  5. Nguyễn Ngọc Tương, Tri Phủ, Chủ Quận Cần Giuộc.
  6. Nguyễn Ngọc Thơ, Nghiệp chủ Sài Gòn.
  7. Lê Bá Trang, Đốc Phủ Sứ, Chợ Lớn.
  8. Vương Quan Kỳ, Tri Phủ, Sở Thuế Thân, Sài Gòn.
  9. Nguyễn Văn Kinh, thầy tu, Bình Lý Thôn, Gia Định.
  10. Ngô Tường Vân, Thông Phán, Sở Tạo Tác Sài Gòn.
  11. Nguyễn Văn Đạt, Nghiệp chủ Sài Gòn.
  12. Ngô Văn Kim, Điền chủ, Đại Hương Cả Cần Giuộc.
  13. Đoàn Văn Bản, Đốc học trường Cầu Kho.
  14. Lê Văn Giảng, Thơ ký kế toán hãng Ippolito Sài Gòn.
  15. Huỳnh Văn Giỏi, Thông Phán Sở Tân Đáo Sài Gòn.
  16. Nguyễn Văn Tường, Thông ngôn Sở Tuần Cảnh Sài Gòn.
  17. Cao Quỳnh Cư, Thơ ký Sở Hỏa Xa Sài Gòn.
  18. Phạm Công Tắc, Thơ Ký Sở Thương Chánh Sài Gòn.
  19. Cao Hoài Sang, Thơ Ký Sở Thương Chánh Sài Gòn.
  20. Nguyễn Trung Hậu, Đốc học trường Tư thục Dakao.
  21. Trương Hữu Đức, Thơ ký Sở Hỏa Xa Sài Gòn.
  22. Huỳnh Trung Tuất, Nghiệp chủ Chợ Đủi Sài Gòn.
  23. Nguyễn Văn Chức, Cai Tổng Chợ Lớn.
  24. Lại Văn Hành, Hương Cả Chợ Lớn.
  25. Nguyễn Văn Trò, Giáo viên Sài Gòn.
  26. Nguyễn Văn Hương, Giáo viên Dakao.
  27. Võ Văn Kỉnh, Giáo tập Cần giuộc.
  28. Phạm Văn Tỉ, Giáo tập Cần Giuộc.

 

Nhận xét về TỜ KHAI ĐẠO (1)

 . . . .Tờ Khai Đạo không phải là Đơn Xin Khai Đạo, mà là Bản Tuyên Ngôn chánh thức của một số tín đồ Cao Đài, khai báo cho nhà cầm quyền Pháp lúc bấy giờ biết: một số người đứng ra thành lập một nền Tân Tôn Giáo với một Tân Giáo lý, sẽ truyền bá trong nước VN và cho toàn nhơn loại trên thế giới.

Ông Gustave Meillon, Giám Đốc Viện Pháp Việt, có viết: Le 7 Octobre 1926, le Gouverneur de la Cochinchine recoit la Déclaration Officielle de la fondation du Caodaisme. Prudent il se contente d'en prendre acte, sans toute fois s'engager formellement à le reconnaïtre.

(Ngày 7-10-1926, Thống Đốc Nam Kỳ nhận được Bản Tuyên Ngôn chánh thức về sự thành lập Đạo Cao Đài. Ông khôn khéo tiếp nhận văn kiện, tuy nhiên không cam kết công nhận chánh thức mối Đạo.)

Ngày 23-8-Bính Dần là ngày Đại Hội đầu tiên của các tín đồ Cao Đài để soạn thảo Bản Tuyên Ngôn Khai Đạo, tại nhà ông Nguyễn Văn Tường, Sài Gòn. Đây là một ngày lịch sử quan trọng của Đạo Cao Đài. . . . .

* Ghí chú:

(1) Theo "Quyển Chân Dung Quyền Giáo Tông Lê văn Trung" do  HT Trần văn Rạng biên soạn, (Hội Thánh kiểm duyệt năm 1974), có đoạn ghi như sau:

" Trong danh sách có 28 vị đứng tên trong Tờ Khai Tịch Đạo, hơn nữa là công chức Pháp nên họ hiểu luật lệ hơn ai hết. Thế mà, ngoài bản tuyên ngôn chỉ kèm theo một bản sao lục Thánh ngôn và một bản dịch Kinh. Điều ấy chứng tỏ rằng Thượng Đế mở đạo giáo dân thì không cần đặt vấn đề xin phép. Trong tờ khai cũng không có từ ngữ nào chứng tỏ các vị xin phép mà chỉ là Tờ Tuyên Ngôn khai đạo Cao Đài.

Thật vậy, Thống Đốc Le Fol không hề ký giấy phép nào cho Đạo Cao Đài hoạt động. " Ngày 7-10-1926 Thống Đốc Nam Kỳ đã nhận được tuyên ngôn chính thức về việc thành lập Đạo Cao Đài. Ông đã khôn khéo tiếp nhận văn kiện, tuy nhiên không cam kết công nhận chính thức mối đạo". Ông G. Meillon gọi đó là Bản Tuyên Ngôn chánh thức về sự thành lập Đạo Cao Đài ( La déclaration officielle de la fondation du Caodaisme) ( GUSTAVE MEILLON, Le Caodaisme, in trong Les Messages Spirites 1962).

Trong Le Caodaisme au Cambodge, Pierre Bernardini đã gọi tên đích xác văn bản đó là : " Déclaration officielle adresse par les fondateurs au Caodaisme à M. Le Fol, Gouverneur de la Cochinchine" ( PIERRE BERNARDINI, Le Caodaisme au Cambodge, Université de Paris VII, 1974, trang 282).

Thống Đốc Le Fol tuy không đàn áp Đạo Cao Đài, nhưng ra lịnh bằng mật điện số 146C ngày 14-11-1926, lưu ý các chủ tỉnh về hoạt động đạo giáo của nhóm ông Lê Văn Trung và ra lệnh cho các chủ tỉnh phải bí mật theo dõi việc truyền đạo và báo cáo cho ông bằng "mật điện" (LALAURETTE, sách đã dẫn, trang 15).

Khi Thống Đốc Blanchard de la Brosse kế nhiệm Le Fol bằng Thông tư số 52C ngày 7-3-1927 ra lịnh cho các chủ tỉnh phải chấp hành mật điện 146 của Le Fol (LALAURETTE, sách đã dẫn, trang 19).

Toàn quyền Decoux cho rằng năm 1939 Bộ Trưởng thuộc địa Pháp Georges Mandel mới công nhận sự hiện hữu của Đạo Cao Đài tại Việt Nam với danh nghĩa tôn kính sự tự do tín ngưỡng (A. DECOUX, À la barre de I' Indochine, Paris, trang 235). Đó là sự hiểu lầm hoàn toàn vì trong Journal Officielle de I' Indochine francaise vào năm 1939 không thấy có nghị định này trong Thư viện ở Việt Nam (chính tôi tìm) cũng như ở Pháp (do G. Meillon tìm giùm). Chỉ có một điện tín của G. Mandel, Tổng Trưởng thuộc địa gởi cho luật sư Trịnh Đình Thảo, người đã bênh vực cho Đạo Cao Đài như sau :
" Tôi đã ra lịnh để cho Đạo Cao Đài được tự do khánh thành Thánh Thất Trãng Bàng ( vào năm 1939). Nếu có xảy ra việc gì, xin ông (Trịnh Đình Thảo) lập tức báo cho tôi hay" (NGUYỄN KỲ NAM , Hồi ký, Tập II, năm Giáp Thìn, trang 102).

Trên đây là những bằng chứng cụ thể giấy trắng mực đen rõ ràng, không một ai có thể phủ nhận mà cưỡng chế mù quáng cho rằng Pháp đã ký giấy phép cho Đạo Cao Đài hoạt động hay Đạo Cao Đài do Pháp lập ra, đều võ đoán và phi lý.

(Hết Trích)

Vấn đề đặt tên 2 ngày Lễ Kỷ Niệm

(Ngày 23-8 Bính Dần và ngày 15-10 Bính Dần)

1)  Một số vị đặt tên ngày 23-8-Bính Dần là ngày KHAI TỊCH ĐẠO. Từ ngữ Tịch Đạo dùng ở đây có nghĩa là Bộ sổ ghi chép tên họ những người theo Đạo. Nhưng đối với Đạo Cao Đài chúng ta, từ ngữ Tịch Đạo mà Đức Chí Tôn ban cho trong bài Thánh Ngôn ngày 1-7-Bính Dần có một ý nghĩa đặc biệt hơn, nó là Thánh danh của Chức sắc trong một đời Giáo Tông, qua đời Giáo Tông khác thì Tịch Đạo cũng thay đổi theo. Như đời Giáo Tông thứ 1, Tịch Đạo của Chức sắc là Thanh Hương, Thánh danh Chức sắc nam phái lấy chữ Thanh và Chức sắc nữ phái lấy chữ Hương.

Chúng ta thấy danh sách của 28 vị đứng dưới Tờ Khai Đạo, hay 247 vị trong danh sách kèm theo đều biên thế danh và chức vụ ở ngoài Đời, không ai biên Thánh danh cả, mặc dầu lúc đó, chư Chức sắc đã có Thánh danh rồi.

Cho nên chúng tôi xin đề nghị không gọi ngày đó là ngày Khai Tịch Đạo, mà gọi chánh danh là ngày LẬP TỜ KHAI ĐẠO.

2)  Ngày 15-10-Bính Dần là ngày Hội Thánh làm Đại Lễ Khai Đạo tại Chùa Gò Kén, tức là ngày mà Đạo Cao Đài chánh thức ra mắt quốc dân đồng bào và các dân tộc trên thế giới.

Đây là một ngày rất trọng đại, vì nó mở ra một kỷ nguyên mới là kỷ nguyên Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Chúng ta không gọi ngày nầy là ngày Khai Minh Đại Đạo mà nên gọi chánh danh là ngày ĐẠI LỄ KHAI ĐẠO ./.

HẾT