THIÊN THƯỢNG - THIÊN HẠ

BÁC ÁI - CÔNG BÌNH

(Dieu et Humanité- Amour et Justice)


NAM MÔ

Nhứt nguyện: ĐẠI ĐẠO HOẰNG KHAI

Nhì nguyện: PHỔ ĐỘ CHÚNG SANH

Tam nguyện: XÁ TỘI ĐỆ TỬ

Tứ nguyện: THIÊN HẠ THÁI BÌNH

Ngũ nguyện: THÁNH THẤT AN NINH

Posted on: 12/14/2014 9:05:01 PM

 

Đặt Nền Tảng Đại Đạo

THỜI ĐẠO PHÁP

(1916-1929)

* Lược trích Đại Đạo Sử Cương, Q1, Soạn giả: HT Trần văn Rạng

____________

* Kính cáo:

Xét thấy tài liệu trong Quyển sách nêu trên có thể giúp ích cho việc tham khảo, tìm hiểu thêm về thời kỳ Khai Đạo của Đạo Cao Đài, chúng tôi lược trích nội dung có liên quan trong quyển sách để giới thiệu cùng chư Đồng Đạo và quý độc giả . .

*     *     *

1)  Đức Chí Tôn định ngày Khai Đạo 14-10-Bính Dần (18-11-1926)

Sau khi lập Tờ Khai Đạo với chính phủ Pháp ngày 7-10-1926 thì việc phổ độ các tỉnh băt đầu từ tháng chín năm Bính Dần. Phân định vùng trách nhiệm như sau:

- Nhóm 1: Do quí ông Lê Văn Trung, Nguyễn Ngọc Thơ, Trần Đạo Quang lo việc phổ độ trong các tỉnh: Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ (nay là Hậu Giang), Sóc Trăng, Bạc Liêu (nay là Ba Xuyên), Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá (nay là Kiên Giang).

Quí ông Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc phò loan.

- Nhóm 2: Do quí ông Lê Văn Lịch, Nguyễn Ngọc Tương, Yết Ma Luật (đã nhập môn) lo phổ độ trong mấy tỉnh: Chợ Lớn, Gò Công, Tân An (nay là Long An), Mỹ Tho (nay là Định Tường), Bến Tre (nay là Kiến Hoà).

Quí ông Nguyễn Trung Hậu và Trương Hữu Đức phò loan.

- Nhóm 3: Do quí ông Lê Bá Trang, Vương Quan Kỳ, Yết Ma Nhung lo phổ độ trong các tỉnh: Tây Ninh, Thủ Dầu Một (nay là Bình Dương), Gia Định, Biên Hoà, Bà Rịa (nay là Phước Tuy), Sađéc.

Quí ông Cao Quỳnh Diêu và ông Cao Hoài Sang phò loan.

- Riêng ông Nguyễn Văn Tương (Chưởng Pháp khác với ông Nguyễn Ngọc Tương ) và ông Nguyễn Văn Kinh (có viết nhiều sách Đạo) là rõ thông đạo lý hơn cả nên đi khắp nơi mà giảng đạo.

Việc phổ độ này để chuẩn bị cho ngày khai đạo, nên kết quả ngoài sức tưởng tượng. Chỉ trong một tháng mấy ngày mà đã có mấy vạn người nhập môn cầu đạo.

Đến tháng 10 tháng 10 thì tạm ngưng việc phổ độ để lo sắp đặt lễ khánh thành Thánh thất Từ Lâm Tự ở Gò Kén (Tây Ninh).

Chùa Từ Lâm vốn của Hoà Thượng Như Nhãn ở chùa Giác Hải, Chợ gạo (nên còn gọi là Hoà Thượng Giác Hải), quyên tiền trong bổn đạo của ông ấy mà lập thành. Vào tháng 7 năm Bính Dần (tháng 8-1926) ông tình nguyện dâng chùa (để làm Thánh Thất). Lúc bấy giờ chùa chưa cất xong, nhưng Đông lang, Tây lang chưa có, tráng xi măng chưa rồi, sơn phết chưa lo, chung quanh chùa còn nhiều cây bụi sầm uất.

Ông Nguyễn Ngọc Thơ và bà Lâm Ngọc Thanh được lịnh chi tiền lo tất cả mọi việc cho hoàn tất để kịp kỳ khai đạo. Lại phải xây tượng Phật Thích Ca, cất Tịnh thất, đấp đường từ quốc lộ 22 vào chùa để xe hơi vào được, rồi nào đốn cây, trồng kiểng, v.v... Còn bà Nguyễn Thị Hiếu thì lo việc trù phòng, đãi ăn uống cho khách thập phương.

Ông Lê Văn Trung thay mặt cho toàn bổn đạo mời đông đủ các chức sắc Hiệp Thiên, Cửu Trùng Đài, các quan khách chính quyền Pháp và Việt Nam đến dự lễ. Các đạo hữu hiện diện đến hàng muôn người. Hội Thánh tiếp đãi rất đầy đủ ân cần mà không nhận tiền bạc của ai cả, ngoài vật phẩm cúng tế.

Đêm 14 rạng ngày rằm tháng 10 năm Bính Dần (18-11-1926) là đêm Khai Đạo Cao Đài và làm lễ khánh thành Thánh Thất đầu tiên. Lễ xong rồi thì cầu cơ, đoạn tới lễ nhập môn, kéo dài đến 3 giờ sáng. . . . . .

2)  Cuộc thử thách đầu tiên trong nền Đạo.

Đêm hôm ấy, vì quá đông người nên cuộc lễ bớt phần trang nghiêm. Khi cầu cơ, Đức Chí Tôn chỉ để ít lời quở trách rồi thăng. Thừa dịp, tà quái nhập vào một nam và một nữ, bổn đạo mà gây rối. Lê Thế Vĩnh xưng là Tề Thiên Đại Thánh và Vương Thanh Chi là Quan Âm Bồ Tát. Lúc đầu bổn đạo tưởng thật, nhưng sau cử chỉ lung lăng, người người đều biết là tà quái xuất hiện.

........Việc biến loạn đó khiến cho những kẻ nhẹ dạ ít tâm thành ngã lòng. Còn hàng chức sắc thì cho đó là một thử thách để trau dồi thêm lòng tin tưởng. Và cũng là một tiếng vang để khách bàng quang chú ý theo dõi tà giáo hay chánh giáo. Vô hình trung, cơ phổ độ xoay đổi được thế cờ chuyển hư thành nên, chỉ 3 tháng sau khi mở đạo tại Từ Lâm Tự mà số người nhập môn lên đến hàng ức, đủ thành phần, chánh kiến và quốc tịch: Pháp, Cao Miên (nay là Campuchia), Hoa kiều....

Ba hôm sau, Thầy giáng cơ dạy về việc này như vầy: "Các con, Thầy nghĩ lại việc hôm nọ tại Thánh Thất biến ra một trường Tà Quái mà Thầy bắt đau lòng đó các con.

Các con thiết nghĩ ra lẽ nào?

Đó là bước Đạo, đó là Thiên cơ, các con hiểu sao được, nhưng Thầy buồn vì nỗi có nhiều đứa sàm biện về việc ấy. Thầy cũng muốn phạt chúng nó một cách nặng nề, nhưng Thầy nghĩ lại mà thương đó chút. Môn đệ của Thầy nhiều đứa muốn bỏ đạo y, ném dép cỏ, lột khăn tu mà mong hồi tục thế. Bởi bước Đạo gập ghình khó tới nên mới ra cớ đỗi. Bởi còn vướng bụi trần, ham mồi phú quí, mê chữ vinh sang mà ngán đạo. Các con hiểu: Thầy buồn, nhưng ấy là máy Trời đã định chạy sao cho khỏi? Thầy biết bao lần vì các con mà chịu nhọc nhằn. (TNHT Q1/47)"

3)  Thầy khai Đạo Tịch Nữ Phái, Nam Phái.

Ngay đêm khai đạo, Đức Chí Tôn lập thành Tịch đạo Nữ Phái: 

Nữ phái nghe Thầy khai Tịch Đạo:

"Hương tâm nhứt phiến cận Càn Khôn,

Huệ đức tu chơn độ dẫn hồn.

Nhứt niệm Quan Âm thùy bảo mạng,

Thiên niên đẳng phái thủ sanh tồn"

Lâm thị: phong vi Giáo Sư, lấy Thiên ân Hương Thanh. Ca thị: phong vi Phó Giáo Sư, lấy Thiên ân Hương Ca . . . . .

Còn cả chư ái nữ, Thầy sẽ lập đại hội cho đủ mấy vị rồi sẽ phong sắc một lần." (TNHT Q2/11)

Nhưng mãi đến mùng 1 tháng giêng Đinh mão (1-2-1927) Đức Lý mới ban sắc phục và lập thành Nữ phái, sau Nam phái.  . . . . .

Đêm Thiên phong nữ phái là ngày14 tháng giêng năm Đinh Mão (15-2-1927), thiên ân 2 vị Phối Sư, 8 vị Giáo Sư, 28 vị Giáo Hữu, 56 vị Lễ Sanh. Trong đó bà Lâm Hương Thanh và bà Lê Thị Ngân thăng lên Phối Sư. Còn quí bà Giáo Sư tân phong có tên tuổi sau:

Bà Bùi Thị Giàu (tức bà Phủ Tương), bà Trịnh Thị Huệ (thân mẫu Đức Cao Thượng Phẩm), bà Nguyễn Thị Hiếu (bạn đời ông Cao Quỳnh Cư), bà Huỳnh Thị Hồ (ái nữ bà Lâm Hương Thanh), v.v...

* Ghi chú: Tịch Đạo của Nam phái (ban tại Vĩnh Nguyên Tự ngày 9-8-1926/ (âl 1-7-Bính Dần)

"THANH Đạo tam khai thất ức niên,

Thọ như địa huyển thạnh hòa Thiên.

Vô hư qui phục nhơn sanh khí,

Tạo vạn cổ đàn chiếu Phật duyên". (TNHT Q1/26)

Đạo dưới thời Lý Giáo Tông thì Nam lấy chữ THANH, Nữ lấy chữ HƯƠNG làm tịch. Đến đời Giáo Tông khác thì Nam sẽ lấy chữ ĐẠO, Nữ lấy chữ TÂM. Khi nào hết Tịch Đạo thì Đấng Chí Tôn sẽ giáng cơ cho Tịch Đạo khác. Lớn nhỏ, trước sau nhờ chữ Tịch Đạo này mà phân biệt.

Đấng Chí Tôn lại giải: "Có kẻ hỏi: Thí dụ như đời Giáo Tông thì Tịch Đạo của chư Đạo hữu Nam Nữ đời trước, dù chức sắc hay tín đồ cũng vậy, có buộc phải thay đổi Tịch Đạo hay không? Ta nói: không, vì chính mình Giáo Tông kế vị cũng phải giữ Tịch Đạo trước. Kỳ dư những tín đồ của đời Ngài độ rồi, tức là chi tộc của Ngài mới đặng thay đổi mà thôi.

Còn những chức sắc cùng là tín đồ của Giáo Tông đời trước còn sót lại thì thuộc về chi tộc của Giáo Tông ấy không đặng phép thay đổi Tịch Đạo.

Tỷ như có Tân Giáo Tông sẽ lên kế vị cho Lý Giáo Tông thì cả tín đồ nam nữ mới nhập môn đều phải lấy Tịch Đạo Tâm. Dù trong hàng tín đồ ấy sẽ có một chơn linh xứng đáng địa vị Chánh Phối Sư, mà Thầy giáng cơ phong chức đi nữa thì cũng phải chịu Tịch Đạo Tâm như các tín đồ khác. Còn chức sắc và tín đồ trong đời Lý Giáo Tông còn lại thì giữ Tịch Đạo Thanh Hương không đặng thay đổi." . . . . . . .

4). Thành lập Pháp Chánh Truyền và Hội Thánh Cửu Trùng Đài.

Đến ngày 16-10 năm Bính Dần (20-11-1926), Đức Chí Tôn giáng cơ, cũng tại Từ Lâm Tự kêu ngài Đầu Sư Lê Văn Trung dạy về lập Pháp Chánh Truyền và ngôi vị Hội Thánh Cửu Trùng Đài.  . . . . . .

Pháp Chánh Truyền thì gồm có việc tổ chức Hội Thánh Cửu Trùng Đài Nam Nữ và Hội Thánh Hiệp Thiên Đài. Vì những điều khoản quá súc tích nên mỗi người hiểu theo mỗi cách. Do đó, ngày mồng 3 tháng 10 năm Canh Ngọ (1930) Đức Lý Giáo Tông mới dạy Đức Phạm Hộ Pháp chú giải (Đạo Nghị Định thứ Sáu).

Nền Chánh trị Đạo hạ tầng, theo Pháp Chánh Truyền buổi ban đầu định đến phẩm Lễ Sanh mà thôi. Về sau, nền Đạo mỗi ngày một phổ thông, người theo Đạo mỗi ngày một nhiều; Đức Lý Giáo Tông đặt thêm Bàn Trị Sự gồm có Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự và Thông Sự.

5). Ban hành Tân Luật.

Pháp Chánh Truyền coi như Hiến Pháp của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Tất cả chi chi phải noi theo đó mà thi hành không được châm chước. Vào ngày 6-12-1926 (2-11 năm Bính Dần), Đức Chí Tôn ra lịnh hội chức sắc thành lập Tân luật.

"Khởi đầu lập luật tu gọi là TỊNH THẤT LUẬT. Kế nữa lập luật trị gọi là ĐẠO PHÁP LUẬT, thứ ba lập luật đời gọi là THẾ LUẬT."

Trong Phần Đạo Pháp gồm có 8 chương:

1) Về việc Chức sắc cai trị trong họ Đạo

2) Về  người giữ Đạo

3) Về  việc lập Họ

4) Về  Ngũ Giái Cấm

5) Về  Tứ Đại Điều Qui

6) Về  Giáo huấn

7) Về  Hình phạt

8) Về  việc ban hành Luật pháp.

Phần Thế Luật là đời của Đạo tức đã nhập môn rồi, gồm có 24 điều, đại để về việc quan hôn tang tế và giữ Đạo.

Phần Tịnh Thất Luật tức là luật nhà tịnh dành cho các tín đồ vào mà tu luyện gồm có 8 điều, nên chức sắc muốn nhập tịnh cũng phải gởi phẩm tước lại bên ngoài nhà tịnh.

6). Thành lập Hội Thánh Hiệp Thiên Đài.

Để tiếp cho trọn bộ Pháp Chánh Truyền, vào ngày 13-2 năm 1927 (12-1 Đinh Mão). Đức Chí Tôn giáng cơ dạy về ngôi vị Hội Thánh Hiệp Thiên Đài . . . . .

(Hết Trích)